Các loại nạy nhổ răng

Nạy là dụng cụ thiết yếu trong phẫu thuật miệng, được dùng trong nhiều trường hợp như bóc tách vạt niêm mạc màng xương, bóc tách nướu, lung lay răng, nhổ răng, nhổ chân răng. Trong hầu hết các trường hợp, chúng dùng để lung lay răng trước khi dùng kềm nhổ răng. Nạy có cấu tạo đơn giản gồm 3 phần: tay cầm, thân và đầu tác dụng. 

Các loại nạy nhổ răng
Một số loại nạy

Chỉ định khi dùng nạy:

  • Sử dụng trước tiên trong nhổ răng- làm đứt dây chằng nha chu/ bóc tách nướu trước khi nhổ răng. 
  • Làm lung lay răng trước khi sử dụng kềm để nhổ răng. 
  • Nhổ những răng không thể hoặc khó bắt kềm-răng mọc kẹt, các răng xung quanh gây vướng. 
  • Nhổ các răng sâu, gãy dưới nướu, khó sử dụng kềm. 
  • Nạy tách răng sau khi chia cắt răng bằng mũi khoan, nhổ từng phần răng. 

Các răng thường được nhổ bằng nạy: răng mọc kẹt, mọc lệch, mọc lạc chỗ, có các răng khác che khuất, mô thân răng sâu vỡ lớn không bắt kềm tốt, răng nghiêng. 

Các chân răng thường được nhổ bằng nạy: Chân răng gãy ngang nướu, chóp chân răng, chân răng vùi trong xương ổ. 

7 Nguyên tắc khi sử dụng nạy:

  1. Không dùng răng kế cận làm tựa, vì có thể làm răng này lung lay. Chỉ dùng răng kế cận làm tựa khi răng này cũng có chỉ định nhổ. Luôn dùng xương ổ răng vùng kẽ hoặc ngón tay để làm tựa. 
  2. Mặt xương ổ răng phía ngoài/trong mỏng, dễ vỡ nên không tựa lực lên vùng này. 
  3. Nhổ răng nên nạy từ phía bên gần của răng cần nhổ . 
  4. Ngón tay giữ trong miệng tránh tổn thương mô mềm khi bị trượt nạy. 
  5. Mặt cong của đầu nạy (lưỡi tác dụng) nên áp vào thân răng/ chân răng khi nhổ. 
  6. Sử dụng lực theo hướng nhổ. 
  7. Khi sử dụng xương ổ răng vùng kẽ làm tựa, chú ý tránh làm lung lay răng/chân răng bên cạnh. 

Phân loại nạy: 

Phân loại dựa vào hai yếu tố: Cách sử dụng và hình dạng. 

  1. Phân loại dựa vào cách dùng: 
  • Nạy dùng để bóc tách mô niêm mạc màng xương- nạy Periosteal. 
  • Nạy dùng cho răng nguyên vẹn- nạy 1L-1R. 
  • Nạy chân răng gãy ngang nướu- 30-40-5 
  • Nạy chân răng gãy vùng phần ba giữa chân răng- 30-40-5, 14L-14R, 11L-11R. 
  • Nạy chóp chân răng- nạy chóp số 1,2,3. 

2. Phân loại dựa vào hình dáng: 

  • Nạy thằng- dạng nêm, đầu thẳng 
  • Nạy khuỷ- trái, phải 
  • Nạy chữ T: cán cầm vuông góc với phần thân nạy, giúp giảm lực tay. Có 3 kiểu tuỳ vào đầu tác dụng: nạy thẳng, nạy tam giác, nạy chóp. 
Một số loại nạy
Một số loại nạy dùng trong phẫu thuật miệng

Nguyên lý hoạt động của nạy:

 Có 3 nguyên lý: 

  • Đòn bẩy: Thường áp dụng nhất trong sử dụng nạy 
  • Chêm 
  • Bánh xe và trục 
  1. Nguyên lý đòn bẩy: kỹ thuật phổ biến nhất khi dùng nạy. Nguyên lý đòn bẩy gồm 3 thành tố: điểm tựa, lực, trọng lượng. Nạy áp dụng lực đòn bẩy loại I, điểm tựa nằm giữa lực và kháng lực.
  • Điểm tựa nằm giữa lực và kháng lực. 
  • Cánh tay đòn phía tác dụng lực phải dài hơn phía kháng lực. 
  • Khi tác dụng lực lên cánh tay đòn dài, lực được tăng lên cấp số nhân khi tác dụng lên kháng lực bên cánh tay đòn ngắn hơn. 

Thường thấy nguyên lý đòn bẩy khi sử dụng kềm nhổ răng, thường kết hợp với nguyên lý bánh xe và trục. Khi sử dụng kềm, khớp nối của kềm sẽ trở thành điểm tựa, các tay cầm sẽ là các cánh tay đòn. Để đạt được lực tốt, chỗ tay cầm nên dài. 

Khi sử dụng nạy, tay cầm là nơi tác dụng lực, đầu tác dụng cảu nạy tiếp xúc với răng chuyển lực lên răng. 

2. Nguyên lý chêm: lực làm nới rộng, tách rời. Một cái chêm cơ bản bao gồm hai mặt phẳng nghiêng trong đó có một mặt nền và một mặt cắt, di chuyển vượt qua lực kháng vuông góc với lực di chuyển của nêm.

Nạy len vào giữa chân răng và xương ổ, lực tác dụng lên nạy được dẫn truyền qua mặt nên rồi qua mặt nghiêng. 

Áp dụng nguyên lý này trong nạy răng/chân răng. Nguyên lý này áp dụng đồng thời với lực đòn bẩy, lực chêm làm nới rộng ổ răng, tách và đẩy răng khỏi ổ răng nhờ kết hợp với lực bẩy. 

Lực chêm áp dụng bằng cách len đầu nạy thẳng vào giữa chân răng và xương ổ răng nhẹ nhàng, liên tục về phía chóp, lực sẽ cắt đứt dây chằng nha chu và làm lung lay răng. 

Lực chêm còn được thấy trong sử dụng kềm, đầu kềm len vào khoảng dây chằng nha chu giữa chân răng và xương ổ răng khi đẩy về phía chóp, làm nong rộng ổ răng, cắt đứt dây chằng nha chu bám vào xương ổ và làm răng lung lay. 

3. Nguyên lý bánh xe và trục:

Đây là nguyên lý có hiệu quả lực mạnh nhất trong 3 nguyên lý, lực tác dụng lên chu vi bánh xe sẽ chuyển lên trục từ đó bẩy được vật. Áp dụng trong trường hợp sử dụng nạy chữ T, tay cầm đóng vai trò như bánh xe và thân nạy vuông góc với tay cầm là trục bánh xe. 

Trong một số trường hợp có thể gây nứt xương hàm dưới vì lực mạnh được tạo .

Cách cầm nạy nhổ răng
Cách sử dụng nạy thẳng trong nhổ răng cửa

Các loại nạy và cách dùng:

  • Nạy Periosteal: dùng khi nhổ răng, bóc tách niêm mạc màng xương khỏi xương bên dưới, bộc lộ vùng nhổ răng bị nướu che phủ. 
  • Nạy chóp: Dùng nạy chân răng gãy trong xương hàm, răng khôn mọc ngầm, răng nanh mọc ngầm. Đầu tác dụng nhỏ nên có thể len vào vùng hẹp. Nạy chóp chia làm 3 loại: loại thằng (No.301) dùng nhổ chân răng cửa bên, cửa giữa, răng nanh, cối nhỏ hàm trên. Loại cong (No.73,74) dùng nhổ răng cối lớn hàm trên ngầm. Loại Root-tip (302, 303) dùng nhổ 1/3 chóp chân răng gãy dưới nướu. 
  • Nạy chữ T (Nạy Winter): Dùng nhổ chân răng cối lớn hàm dưới và răng khôn ngầm hàm dưới.  Có 3 loại: No.11L và 11R dùng nhổ răng khôn hàm dưới bên phải; No. 14L và 14R dùng nhổ chân răng gần răng cối lớn hàm dưới bên phải và chân răng xa răng cối lớn hàm dưới bên trái; No.1L và 1R nhổ răng khôn mọc ngầm (không lệch), lung lay các răng.

Các biến chứng khi dùng nạy:

  • Tổn thương răng kế bên do dùng sai lực: lung lay răng, nứt gãy. 
  • Nứt bản xương hàm phía ngoài, phía trong lúc nạy. 
  • Nứt xương ổ răng. 
  • Nứt lồi củ xương hàm trên khi nhổ răng khôn hàm trên. 
  • Tổn thương mô mềm xung quanh do trượt nạy. 
  • Đẩy chân răng/răng khôn vào xoang hàm do dùng sai lực. 
  • Răng cối lớn hàm dưới lọt vào kênh hàm dưới, khoang lữoi, khoang chân bướm hàm do dùng lực sai. 

Gửi phản hồi